Top 10 Bài văn phân tích khổ thơ cuối bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận (lớp 11) hay nhất

20-05-2021 10 2 0 0

Báo lỗi

Một trong những nhà thơ mới nổi tiếng là nhà thơ Huy Cận, mỗi bài thơ mang một phong thái rất riêng. Thơ của Huy Cận mang phong thái thơ hàm súc, triết lí và phục vụ cho cách mạng của VN. Một trong những tác phẩm thơ nổi tiếng là “Tràng giang”, bài thơ nằm trong tập thơ “Lửa thiêng”. Bài thơ thể hiện cảnh thu 1939, bài thơ được sáng tác khi tác giả nhìn bên bờ sông Hồng dưới dòng nước mênh mông sóng nước. Đặc sắc nhất là khổ thơ cuối của bài thơ “Tràng giang”. Chúng ta cùng Toplist đi tìm hiểu khổ thơ cuối của bài thơ để nắm vững về phong thái thơ của Huy Cận trong bài viết được tổng hợp dưới đây.

12345678910

1


Bình An

Bài văn phân tích khổ thơ cuối bài thơ “Tràng giang” số 1

Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới. Thơ ông chịu ảnh hưởng của thơ Đường, thơ Pháp, giọng thơ ảo não. Thơ Huy Cận trước cách mạng tháng 8 thường mang tâm trạng buồn, u uất. Đó cũng là một tâm trạng chung của cả thế hệ một dân tộc.

Bài thơ “Tràng giang” được trích từ tập “Lửa Thiêng” thể hiện một nỗi buồn cô đơn, một nỗi buồn nhớ nhà, nhớ quê trong cảnh hoàng hôn trước tràng giang. Khổ thơ cuối là nỗi nhớ trào dâng của tác giả, một nỗi nhớ quê da diết khi đứng trước hoàng hôn, nơi sông dài trời rộng:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc….

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Đây là khổ thơ kết tinh của làng quê “dợn dợn vời con nước” của Huy Cận, của một tấm lòng sâu lắng thiết tha với quê, đất nước. Hai câu đầu là một bức tranh nhiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa”

Cách cảm nhận của nhà thơ hết sức tinh tế tạo nên những nét vẽ hoành tráng của thiên nhiên buổi chiều: “lớp lớp mây” chồng xếp lên nhau thành núi mây trắng trông như được dát bạc. Từ “đùn” rất giàu giá trị tạo hình gợi nhớ đến hai câu thơ của Đỗ Phủ:

“Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm

Mặt đất mây đùn cửa ải xa”

Một cánh chim nhỏ xuất hiện trong câu thơ gợi ấn tượng về sự cô đơn, bơ vơ, nhỏ nhoi đến tội nghiệp khiến cho không gian càng thêm rộng lớn. Một cách cảm nhận vừa gần gũi, vừa tinh tế. Hình ảnh bóng chiều như thu lại sa xuống từ cánh chim:

“Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”

Trước không gian vô tận ấy, tâm trạng nhà thơ là nỗi nhớ nhà:

“Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Tư thế ấy có khiến ta liên tưởng đến Lý Bạch:”Cửa đầu vọng minh nguyệt – Đê đầu tư cố hương”? Âm hưởng hai câu thơ Đường thi tuyệt tác của Thôi Hiệu phảng phất ở đây:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Thế nhưng Thôi Hiệu phải có “khói sóng” mới “buồn lòng ai”. Còn nhà thơ của chúng ta “không khói hoàng hôn” mà “lòng quê” vẫn “dợn dợn vời con nước”! Từ láy “dợn dợn” và từ “vời” khiến nỗi buồn triền miên, xa xôi, dàn trải mãi đến vô tận, đến khôn cùng! Chỉ với 4 câu thơ ngắn gọn, Huy Cận đã trải lòng mình trên từng trang thơ để thể hiện tình yêu quê , giang sơn tha thiết.

Huy Cận vốn là một trong những nhà thơ nổi tiếng của trào lưu thơ mới. Thơ ông vốn đặc biệt vì trong hồn thơ luôn chứa đựng một nét hoài cổ buồn và sầu. Đặc biệt là bài thơ Tràng Giang với khổ thơ thứ tư đã cho ta thấy rõ điều đó. Đó là một khổ thơ rất đẹp trong bài, tuy mang một chút buồn. Một vẻ đẹp của một buổi chiều trên sông nước, gợi một nỗi buồn sầu nhân thế:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa

Đây là một bức tranh thiên nhiên tả cảnh buổi chiều, rất sinh động. Đọc câu thơ đầu, ta tự hỏi. Phải chăng đây còn là câu thơ nổi trội một nỗi sầu trong thi sĩ, nỗi sầu này đang dâng lên trùng trùng lớp lớp, như dồn nén và ứ đọng lại trong mảnh hồn của thi nhân, đến tràn ngập cả bầu trời. Đặc biệt trong thơ Huy Cận luôn chứa đựng những hình ảnh cánh chim, một trong những hình ảnh thường xuất hiện trong thơ ca cổ. Nét cổ xưa một cánh chim nhỏ chấm phá trên nền trời khi chiều bắt đầu buông, thể hiện rõ nét sự nhỏ xíu, đơn côi trong lòng thi sĩ và càng khiến bài thơ trở thành mông lung, vắng lặng, buồn hiu hơn nữa.

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Đây là hai câu thơ đã diễn tả được hết nỗi nhớ quê và tình yêu với tổ quốc trong lòng thi sĩ. Thơ Huy Cận mang nặng ý vị cổ xưa là đây. Trời rộng, sông dài, một người đứng đơn côi giữa mênh mông rộng lớn, khiến ta liên tưởng một ý thơ toát ra từ thơ Đường:

quê khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

Người xưa nhìn sóng trên sông nên nỗi nhớ nhà càng thấm thía. Thì Huy Cận không cần điều đó, cái hồn sầu trong lòng đã như ngấm vào máu, thấm vào từng tế bào của nhà thơ mất rồi. Thể hiện một sự mến thương cao độ, một tấm lòng yêu nước thiết tha của Huy Cận, và còn thường trực hơn nhiều. Và đây cũng là một nét tâm trạng của thanh niên tiểu tư sản lúc bấy giờ.

Tố Hữu đã nói “sống giữa quê mà bơ vơ như kiếp đi đày” quả thực nói rất đúng về tâm trạng thanh niên nói chung và tâm trạng riêng của Huy Cận trong khổ thơ này. Và càng cho ta hiểu nỗi buồn thấm thía của một thời giang sơn ta lúc bấy giờ.

Là khổ thơ xuất sắc nhất trong tác phẩm, và cũng là khổ thơ thể hiện rõ nhất nét tâm trạng của một chàng trai trí thức tiểu tư sản lúc bấy giờ. Thế mới hiểu vì sao người ta nói Huy Cận là cái mảnh hồn thiêng sông núi, và là nỗi sầu của nhân thế. Nhờ phối kết hợp những biện pháp nghệ thuật tài hoa đã làm nổi trội giá trị nội dung, tư tưởng của một phong thái thơ mới tài năng. Và Huy Cận mãi về sau khi nhắc đến vẫn sẽ luôn là một mảnh hồn không thể tách rời với văn học Việt Nam.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)


2


Bình An

Bài văn phân tích khổ thơ cuối bài thơ “Tràng giang” số 2

Nền thơ 1930 – 1945 đã đóng góp cho thi đàn văn học Việt Nam nhiều phong thái độc đáo. Nếu ta theo Thế Lữ vào giấc mơ tiên, vào cuộc đời bất tận theo cách sôi nổi cuống quýt vội vàng của Xuân Diệu “muốn cắn trái xuân hồng” thì ta cũng hoàn toàn có thể đi theo Huy Cận đi vào bể sầu nhân thế. Chẳng cần đi tới tập thơ Lửa thiêng chỉ riêng bài Tràng giang cũng đã làm nên hồn thơ “ảo não” Huy Cận. Và khổ thơ cuối là khổ thơ sâu lắng tha thiết nhất trong trường buồn Tràng giang của ông.

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc…Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Nếu như trong ba khổ thơ đầu chúng ta thấy tâm trạng buồn của một “nỗi buồn” thế hệ mang tính thời đại, một nỗi buồn không tìm ra lối thoát nó như nối dài triền miên, nó như dàn trải theo mênh mông vô địch của sông nước, thì tới khổ thơ cuối tâm trạng ấy được nâng lên chiều cao, lan tỏa trong khói hoàng hôn của buổi chiều tàn.

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Ở dòng thơ này ta thấy đôi mắt của nhà thơ có vẻ như đang nhìn thấy rất xa nơi cuối chân trời “Tràng giang”. Thật vậy không gì vui bằng lúc rạo rực bình minh, nhưng cũng không gì buồn bằng cái buổi ngày tàn của“bóng chiều sa”. Nhưng chính lúc ấy trong thơ Huy Cận với “Tràng giang” lại rạng lên vẻ đẹp tráng lệ với “lớp lớp” những tầng mây hợp thành “núi mây” khổng lồ, được vạt nắng chiếu rọi thành “núi bạc”. Những đám mây trắng xốp ấy cứ to dần lên như hình quả núi và đằng sau hình quả núi ấy là một mặt trời chói lọi sắp tắt khiến cho núi mây trở thành núi bạc, một cảnh rực rỡ hiếm có khi hoàng hôn đang lụi dần, không gian có vẻ như có một sự vận động lặng lẽ: mây cứ đùn lên mãi chiếm lĩnh cả bầu trời cao, khiến cho ở đấy mây cũng đầy nỗi buồn rợn ngợp.

Tác giả đã dùng cái có của thiên nhiên để nói về cái không của tình người trong cái bể trời bao la ấy. Câu thơ gợi nhớ nỗi buồn của Đỗ Phủ khi ông không chốn nương thân da diết nhớ quê:

Mặt đất mây đùn cửa ải xa.

Ta thấy trong suốt hành trình Tràng giang hình ảnh thi nhân cô đơn trong từng cảnh vật đổi thay nhưng cùng chung dáng vẻ “trôi nổi mông lung lạc loài vô định”, một cành củi khô bập bềnh trôi trên sông (củi một cành khô lạc mấy dòng), một đám bèo xanh trôi nổi trên sông (bèo dạt về đâu hàng nối hàng). Với khổ thơ cuối hình ảnh thi nhân, nỗi buồn của thi nhân lại thấp thoáng ẩn hiện trong một hình ảnh cô đơn lạc loài. Đó là một cánh chim, chim nhỏ nhoi đang chở nặng bóng chiều, nghiêng cánh nhỏ cố bay về chân trời xa vắng.

Cánh chim bay lượn tuy gợi lên một chút ấm cúng cho cảnh vật nhưng mông lung quá, nỗi buồn ở đây càng thêm da diết trong nhớ thương. Nó không đóng khung cảnh sông nước ở trước mặt mà mở ra đến chân trời của miền quê xa. Nếu như câu thơ “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc” gợi lên cái cao, cái bồng bềnh của cảnh mây trời thì câu thơ tiếp theo lại trĩu xuống theo như hình ảnh “bóng chiều sa”. Có lẽ bóng chiều ấy đang chở nặng một tâm tình buồn nhớ của thi nhân nên mới có chữ “sa” chứ không phải là “xa”. Phải chăng cái nỗi buồn cô đơn cùng nỗi buồn “sầu nhân thế” đó càng gợi lên trong nỗi buồn của nhà thơ. Nó thể hiện sâu đậm trong hình ảnh thi nhân một mình đứng lẻ loi giữa vũ trụ bao la, lặng lẽ cảm nhận cái vĩnh hằng, cái vô tận của không gian đối lập với kiếp người.

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Chuyển sang câu thơ thứ ba đột ngột xuất hiện hai tiếng “lòng quê” không phải là ánh nhìn nhìn vào mình, nhìn theo đến hun hút vào “tràng giang” mà đó là cõi lòng nhìn vào mình rồi nhìn về phía chân trời xa xôi. “Lòng quê” đó là nỗi lòng nhớ quê. Và cũng có thể có nghĩa diễn nôm na là: của người trí thức tây học này vốn đã bị thị thành hóa giờ đây nó đang quay về thành tấm lòng của người cố hương giàu tình làng nghĩa xóm. Hai nghĩa trên nó sẽ định ra cho sự giải thoát cô đơn. Phải thành cái mình thứ hai nữa mới trở về chính quê mình.

Hai tiếng “dợn dợn” gợi lên muôn nhịp sóng: sóng nước, sóng lòng diễn tả sự rợn ngợp của nhà thơ trước cảnh trời nước mênh mông trong khoảnh khắc hoàng hôn gắn liền với tình quê cố hương:

quê khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Dòng thơ sau cuối gợi ngay đến 2 câu thơ của Thôi Hiệu thời Đường cũng là tâm tình quê của Huy Cận. Với Huy Cận lòng quê đã nhớ quê sẵn. Đó là nhớ nhà, nhớ những người ruột thịt, những gốc chuối bờ tre. Vì thế không tồn tại một sự gợi ý ngoại cảnh thì tấm lòng ấy vẫn đăm đắm hướng về quê nhà để hy vọng kiếm một chút niềm thân thiết ở làng quê sông nước, nơi chôn nhau cắt rốn của tớ.

Mới đọc bài thơ Tràng giang ta có cảm tưởng toàn bộ bài thơ là thiên nhiên. Nó rất hoang vắng, nó độc thoại với chính nó. Thế nhưng bốn dòng thơ cuối bộc lộ chân thực nhất, sâu đậm nhất tình yêu quê của tác giả. Và ở hoàn cảnh giang sơn bị đô hộ càng yêu quê thắm thiết bao nhiêu thì thi nhân càng “ảo não” bấy nhiêu.

Phải chăng ai đó đã nâng đỡ lòng người, khơi gợi những gì đẹp đẽ nhất, tiềm tàng nhất với đáy sâu tâm hồn để vươn tới cái cao quý. Tràng giang đã khơi dậy tâm hồn bạn đọc một tình yêu thiêng liêng cao quý, nó mở đường cho tình yêu Tổ quốc, tình yêu giang sơn giang sơn.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3


Bình An

Bài văn phân tích khổ thơ cuối bài thơ “Tràng giang” số 3

Đọc thơ của Huy Cận người đọc cảm nhận rõ được tình yêu thiên nhiên, yêu quê giang sơn sâu nặng trong lòng ông. Bằng tình yêu nồng nàn và luôn cháy trong tim ông luôn hướng về quê giang sơn dù hiện tại ông đang đứng trên mảnh đất quê. Khổ cuối bài Tràng giang là tình yêu thiên nhiên, yêu quê giang sơn. Tác giả với tình yêu quê giang sơn yêu cảnh sắc quê vì thế mà bức tranh thiên nhiên vẫn tiếp tục được mở ra với những chi tiết mới:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”

Câu thơ đầu đã gợi mở ra cảnh phía chân trời xa, những đám mây trắng ông xã xếp lên nhau trùng trùng điệp điệp dưới phản chiếu ánh dương lấp lánh như núi bạc. Huy Cận học ý thơ của Đỗ Phủ qua bản dịch nghĩa của Nguyễn Công Trứ: “Mặt đất mây đùn từ ải xa.” Đã phác họa bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hoành tráng đẹp một cách tráng lệ lung linh.

Nhưng đến câu thơ thứ hai: “Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa”. Thơ xưa khi nói tới chiều thường buồn điểm xuyết trên nền không gian là cánh chim về tổ. Huy Cận vẽ cánh chim trao nghiêng đặt trong dấu hai chấm như để nhấn mạnh cả bóng chiều như rơi xuống góp phần gợi nỗi buồn da diết về sự bé nhỏ của con người giữa cuộc đời. Không gian rộng lớn bao la nhưng lại làm cánh chim nghiêng ngả với đôi cánh nhỏ của tớ. Nhưng trong câu thơ trên Huy Cận có nhắc đến thời điểm “bóng chiều” là là khoảng thời gian đặc trưng cho tâm trạng nhớ nhà nhớ quê da diết của những người con xa quê chính vì thế mà hai câu tiếp theo đã bộc lộ rõ tâm trạng ấy:

“Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”

Lần thứ nhất thi sĩ bộc lộ tâm trạng nỗi nhớ quê được hiện lên từ khói hoàng hôn, từ con nước dợn dợn. Nó đã gợi ta nghĩ đến cảm giác đang rợn lên trong tâm trí con người hay những con sóng nhấp nhô trên sóng nước rất khó phân định chỉ biết qua từ “dợn dợn” sóng nước, sóng lòng đang hòa quyện vào nhau mênh mang trên dòng sông. Chỉ biết tấm lòng thương nhớ quê không chỉ có ở trong ý thức mà đã xâm lấn cảm giác của con người thấm thía. Câu thứ 4 “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” tính đối thoại với cùng 1 tình cảm quan niệm thơ đi trước cho ta nghĩ đến tiếng thơ của Thôi Hiệu:

“Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”

Với Huy Cận không cần khói sóng nào cần đến tác dụng của ngoại cảnh mà vẫn nhớ quê, nỗi niềm thương nhớ luôn thường trực trong lòng người. Đó là cách bày tỏ tình cảm thật sâu sắc. cũng tương tự Bà Huyện Thanh Quan:

“Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”

Đứng trên quê, giang sơn mà vẫn nhớ quê giang sơn. Phải chăng đó là nỗi buồn sông núi của một trí thức yêu nước sống trong thân phận vong quốc nô, nỗi buồn của một thế hệ thanh niên yêu nước sống dưới thời Pháp đương thời. Bức tranh thiên nhiên gây ấn tượng bởi vẻ đẹp kì vĩ mĩ lệ của khung cảnh trời chiều đậm màu sắc nhưng bức tranh quá rộng lớn làm đầy lên nỗi cô đơn nhớ thương khắc khoải của nhân vật trữ tình.

Tràng giang là tiếng buồn của hồn thơ Huy Cận được gợi lên từ sự đối lập giữa không gian mênh mông cao rộng với nhỏ xíu mong manh. Nỗi buồn không hoàn toàn vô cớ đó là nỗi buồn thương về kiếp người cuộc đời về quê giang sơn. Nỗi buồn gắn với quan niệm thẩm mĩ của những nhà thơ mới nét đẹp sánh đôi với cái buồn. Đó cũng là nỗi buồn của thế hệ thanh niên mà trong thơ của Huy Cận thường đem nỗi buồn vào vũ trụ bao la. Bài thơ còn là sự phối kết hợp hài hào giữa yếu tố cổ xưa và hiện đại với những nghệ thuật thất ngôn trường thiên, phép đối ngẫu, thi tứ, bút pháp tả cảnh ngụ tình lấy điểm tả diện đã làm nổi trội khổ cuối của bài thơ.

Tuy chỉ là một khổ thơ nhưng khổ thơ cuối lại có ý nghĩa sâu sắc cực kì quan trọng trong việc bộc lộ tâm trạng của Huy Cận khi đứng trên quê ngắm nhìn cảnh đẹp kì vĩ trên giang sơn mình mà trong lòng không khỏi bồi hồi xúc động từ đó bộ lộ tình yêu thiên nhiên yêu quê kín đáo mà cũng tha thiết của tác giả.

Khi ta phân tích khổ thơ cuối bài Tràng giang có vẻ như nó giúp khơi gợi trong chúng ta tình yêu quê giang sơn tha thiết, yêu cảnh sắc quê mình từ đó mà dạy chúng ta cách trân trọng cuộc sống, trân trọng những gì đang có.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4


Bình An

Bài văn phân tích khổ thơ cuối bài thơ “Tràng giang” số 4

Nhà thơ Huy Cận có rất nhiều bài thơ hay mô tả về cảnh thiên nhiên, tình yêu quê giang sơn, nỗi nhớ nhà Trong số đó nổi trội nhất là bài thơ ” tràng giang” nó là bài thơ tiêu tiêu biểu của trào lưu thơ mới. trong bài thơ ” tràng giang ” khổ thơ cuối của bài thơ khổ thơ này đã thể hiện tâm trạng buồn, cô đơn, bơ vơ của tác giả khi nhớ nhà:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa,

Lòng quê dợn dợn vời non nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”

Huy Cận lại khéo vẽ nét đẹp cổ xưa và hiện đại cho bầu trời trên cao:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.

Tác giả đã dùng những từ láy ” lớp lớp” ở đây để mô tả rõ hình ảnh của những đám mây nhiều nó từng lớp từng lớp đã làm bạc đi cả bầu trời, câu thơ :”lớp lớp mây cao đùn núi bạc” nhà thơ đã dùng biện pháp so sánh ẩn dụ và bút pháp chấm phá với “mây cao đùn núi bạc” thành “lớp lớp” đã khiến người đọc tưởng tượng ra những núi mây trắng được tia nắng chiếu vào như dát bạc. Hình ảnh mang nét đẹp cổ xưa thật trữ tình và lại càng thi vị hơn khi nó được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ:

“Mặt đất mây đùn cửa ải xa” để tô thêm vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ tác giả đã so sánh màu của những đám mây với” bạc” một cách so sánh khá khéo léo. Huy Cận đã vận dụng rất tài tình động từ “đùn”, khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ đùn ra mãi thành núi bạc. Đây cũng là một nét thơ đầy chất hiện đại, chính vì nó đã vận dụng sáng tạo từ thơ cổ xưa quen thuộc. Và nét hiện đại càng bộc lộ rõ hơn qua dấu hai chấm thần tình trong câu thơ sau.

Dấu hai chấm này gợi mối quan hệ giữa chim và bóng chiều.

Trời mây thì bao la, rộng lớn như vậy còn chim thì chao nghiêng nhưng ở đây không phải là chao nghiêng một cách bình thường mà “chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa”:Chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng chiều, cùng sa xuống mặt tràng giang, hay chính bóng chiều sa, đè nặng lên cánh chim nhỏ làm nghiêng lệch cả đi. Câu thơ tả không gian nhưng gợi được thời gian chính vì nó sử dụng “cánh chim” và “bóng chiều”, vốn là những hình tượng thẩm mỹ để tả hoàng hôn trong thơ ca cổ xưa.có lẽ những đàn chim đang vội vã bay về tổ ấm của tớ để tránh được cái ” bóng chiều sa”.

có vẻ như những cánh chim đó đang bị đè nặng của cảnh xế chiều buông xuống và điều đặc biệt hơn là cánh chim không bình thường mà chim nghiêng bỏi đôi cánh nhỏ bằng đôi cánh nhỏ của tớ chim bay về tổ ấm của tớ để tránh được một không gian rộng lớn buổi chiều tà.

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

“Lòng quê dợn dợn vời non nước” Lòng quê ở đây muốn nói lên nỗi nhớ quê của nhà thơ, sự hướng tâm chứ không chỉ có đơn thuần là tấm lòng chất phác, quê mùa. Hai từ “dợn dợn” cho ta cảm nhận sóng biển đang ở bên ta, sóng biển cũng biết nhớ thương hay tác giả đang nhớ thương vậy?

“Dợn dợn” là một từ láy nguyên sáng tạo của Huy Cận, vẫn chưa từng thấy trước đó. Từ láy này hô ứng cùng cụm từ “vời con nước” cho thấy một nỗi niềm bâng khuâng, cô đơn của “lòng quê”. Hai từ “dợn dợn” còn gợi cho ta thấy được sự lên xuống uốn lượn của sóng biển hay nỗi nhớ trào dâng của nhà thơ khi đứng trước cảnh hoang vắng của một buổi chiều tà. Và nỗi nhớ ấy không chỉ có một lần mà là liên tục, nhiều lần nhưng nỗi ấy mới chỉ là “dợn dợn” mà vẫn chưa phải là cuồng nhiệt. Câu thơ muốn nói lên lòng nhớ quê khi tác giả sông nước. hay trong truyện kiều cũng ả nỗi nhớ nhà nhưng lại vẫn chưa chắc chắn đâu là nhà khi:

“Bốn phương mây trắng một màu

Trông vời cố quốc biết đâu là nhà”

Kiều nhớ quê nhà nhưng bốn phương đều là một màu làm sao để nhận thấy được đâu là nhà hay trong cuộc sống của cô như thế thì sẽ biết về đâu và đâu sẽ là nhà?vâng lòng nhớ quê được gợi lên bởi từ” mây trắng “, cánh chim chiều và được tác giả nhấn mạnh ở từ” con nước’. Tác giả kết thúc bài thơ một cách nhẹ nhàng nhưng sâu lắng:

“Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Nhà thơ đã mượn từ “khói “trong thơ của nhà thơ thôi hiệu để nói lên nỗi lòng của tớ, nếu như nhà thơ Tô Hiệu nói” trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” thì nhà thơ Huy Cận không tồn tại “khói” nhưng vẫn nhớ về nhà hay cái nôi mà mình đã nuôi ta trưởng thành. Nhà thơ tô hiệu mới nói lên nỗi nhớ nhà một cách chung nhưng ở đây nhà thơ huy cận đã khẳng định “không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” câu thơ rất mạnh mẽ dứt khoát .

Xưa kia nhà thơ thôi hiệu buồn vì cõi tiên mù mịt, quê nhà cách xa, khói sóng trên sông gợi cho tác giả thấy mờ mịt mà sầu. Nhưng nay Huy Cận buồn trước cảnh không gian hoang vắng,sóng “gợn tràng giang “khiến ông nhớ tới quê như một nguồn ấm cúng vá là tổ ấm hạnh phúc đối với ông. Thôi hiệu tìm giấc mơ tiên chỉ thấy hư vô, đó là lòng khát khao một cõi quê thực tại còn Huy Cận một mình đối diện với khung cảnh vô tình, hoang vắng lòng ông lại muốn được trở về với quê mang nặng tình thương và mang lại sự ấm cúng cho tác giả đó cũng là nỗi khát vọng của ông.

Bằng những biện pháp so sánh và sự tài tình mô tả của nhà thơ đã thể hiện rõ nỗi buồn, nỗi nhớ nhung quê của tác giả. Nỗi niềm nhớ quê khi đang đứng giữa quê, nhưng quê đã không hề. Đây là nét tâm trạng chung của nhà thơ mới lúc lúc bấy giờ, một nỗi lòng đau xót trước cảnh mất nước.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5


Bình An

Bài văn phân tích khổ thơ cuối bài thơ “Tràng giang” số 5

Trong bài thơ Tràng giang của nhà thơ Huy Cận, khổ thơ cuối là một trong những khổ thơ cô đọng, giàu hình tượng và nghệ thuật nhất, cũng là khổ thơ thể hiện rõ nhất tâm trạng của chủ thể trữ tình. Qua khổ thơ, người đọc hoàn toàn có thể thấy được những nét hiện đại pha lẫn với yếu tố cổ xưa đã làm nổi trội nên nỗi nhớ nhà và tâm trạng lo lắng trước thời cuộc, vận mệnh giang sơn của người thanh niên.

Thiên nhiên trong đoạn thơ này có sự vận động dữ dội, những đám mây trắng từ đâu đùn về tạo thành những dãy núi bạc trên bầu trời in bóng dưới dòng sông, câu thơ như một bức tranh sơn thủy, hữu tình. “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc” câu thơ cũng gợi lên vẻ đẹp hùng vĩ tráng lệ của non sông mà qua đó ta cảm nhận được tình cảm của thi nhân đối với quê giang sơn.

Câu thơ thứ 2 là hình ảnh của một cánh chim chiều nhưng được mô tả rất đặc biệt, bóng chiều như có cả hình khối và sức nặng đang đè lên cánh chim nhỏ nhoi. Con chim thì như đang vội vã chạy trốn bóng chiều đang sa xuống. Hình ảnh thơ như nói hộ nỗi bơ vơ, sự lạc loài của chính nhà thơ bởi giờ đây ông cảm thấy mình cũng như cánh chim nhỏ nhoi kia, muốn chạy trốn cuộc đời nhưng không biết đi về phương nào.

Câu thơ thứ 3 “Lòng quê dợn dợn vời con nước” sử dụng cách nói kiệm lời. Lòng quê tức là nỗi lòng cứ từng đợt, từng đợt trào dâng (dợn dợn), nó cũng tương tự những con sóng bên sông cứ tiếp nối nhau về chân trời xa xôi vợi. Nỗi buồn nhớ quê như mênh mang vô tận bao trùm cả không gian. Theo Huy Cận thì giai đoạn này ông đang sống ở xa quê mà như không tồn tại quê. Trước sông nước mênh mông càng thấy trống vắng lạc loài, càng khao khát sự sum họp, sum vầy.

Câu thơ kết “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” gợi nhớ câu thơ của Thôi Hiệu song ý thơ lại có những nét khác. Thôi Hiệu nhìn khói sóng trên sông rồi liên tưởng đến những ngọn khói lam chiều mà lòng trào dâng nỗi nhớ quê. Còn ở đây dù không tồn tại khói mà cứ chiều xuống nỗi nhớ nhà lại cồn cào đau đầu trong lòng thi nhân. Hình như so với Thôi Hiệu thì nỗi nhớ trong Huy Cận nó canh cánh, da diết, chảy bỏng hơn.

Cả bài thơ Tràng giang vốn đã đượm một nỗi buồn man mác thì đến khổ thơ sau cuối này, nỗi buồn ấy lại càng như trở thành sâu đậm hơn. Tác giả đã sử dụng hàng loạt từ “cánh nhỏ”, “chiều sa”, “dợn dợn”, “vời”, “nhớ” càng tô đậm thêm nỗi buồn man mác của nhà thơ. Khổ thơ này nhà thơ cũng nhắc đến quê và nhà của tớ. có vẻ như sau hàng loạt khung cảnh mênh mang sóng nước, sự trĩu nặng của tâm trạng khi cảnh vật về chiều thì sau cuối tác giả cũng phải bật thốt lên về nỗi nhớ thương của tớ trong khổ thơ sau cuối này. Phải dồn nén thế nào, nỗi nhớ chan chứa và sâu lắng ấy mới được nhà thơ gói gọn trong hai dòng thơ cuối.

Bài thơ Tràng giang, đặc biệt là khổ thơ sau cuối, là sự kết tinh của những hình ảnh thơ hiện đại và cổ xưa. Cách vận dụng sáng tạo thơ xưa của Thôi Hiệu với sự diễn đạt của riêng nhà thơ đã tạo thành một phong thái rất Huy Cận. Qua đây, người đọc hoàn toàn có thể thấy được cảnh đẹp kì vĩ của non sông giang sơn và sự cô đơn, lạc lõng của người thanh niên đứng trước trời đất mà bất lực về bản thân.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6


Bình An

Bài văn phân tích khổ thơ cuối bài thơ “Tràng giang” số 6

Nhà thơ Huy Cận có rất nhiều bài thơ hay mô tả về cảnh thiên nhiên, tình yêu quê giang sơn, nỗi nhớ nhà Trong số đó nổi trội nhất là bài thơ ” tràng giang” nó là bài thơ tiêu tiêu biểu của trào lưu thơ mới. trong bài thơ ” tràng giang ” khổ thơ cuối của bài thơ khổ thơ này đã thể hiện tâm trạng buồn, cô đơn, bơ vơ của tác giả khi nhớ nhà:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cảnh nhỏ bóng chiều sa,

Lòng quê dờ dợn vời non nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”

Huy Cận lại khéo vẽ nét đẹp cổ xưa và hiện đại cho bầu trời trên cao:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.

Tác giả đã dùng những từ láy ” lớp lớp” ở đây để mô tả rõ hình ảnh của nhưng đám mây nhiều nó từng lớp từng lớp đã làm bạc đi cả bầu trời, câu thơ :”lớp lớp mây cao đùn núi bạc ” nhà thơ đã dùng biện pháp so sánh ẩn dụ và bút pháp chấm phá với “mây cao đùn núi bạc” thành “lớp lớp” đã khiến người đọc tưởng tượng ra những núi mây trắng được tia nắng chiếu vào như dát bạc. Hình ảnh mang nét đẹp cổ xưa thật trữ tình và lại càng thi vị hơn khi nó được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ: ”Mặt đất mây đùn cửa ải xa” để tô thêm vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ tác giả đã so sánh màu của những đám mây với” bạc” một cách so sánh khá khéo leó. Huy Cận đã vận dụng rất tài tình động từ “đùn”, khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ đùn ra mãi thành núi bạc. Đây cũng là một nét thơ đầy chất hiện đại, chính vì nó đã vận dụng sáng tạo từ thơ cổ xưa quen thuộc. Và nét hiện đại càng bộc lộ rõ hơn qua dấu hai chấm thần tình trong câu thơ sau.

Dấu hai chấm này gợi mối quan hệ giữa chim và bóng chiều. Trời mây thì bao la, rộng lớn như vậy còn chim thì chao nghiêng nhưng ở đây không phải là chao nghiêng một cách bình thường mà “chim nghiêng cánh nhỏ :bóng chiều sa”:Chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng chiều, cùng sa xuống mặt tràng giang, hay chính bóng chiều sa, đè nặng lên cánh chim nhỏ làm nghiêng lệch cả đi. Câu thơ tả không gian nhưng gợi được thời gian chính vì nó sử dụng “cánh chim” và “bóng chiều”, vốn là những hình tượng thẩm mỹ để tả hoàng hôn trong thơ ca cổ xưa.có lẽ những đàn chim đang vội vã bay về tổ ấm của tớ để tránh được cái ” bóng chiều sa”.

có vẻ như những cánh chim đó đang bị đè nặng của cảnh xế chiều buông xuống và điều đặc biệt hơn là cánh chim không bình thường mà chim nghiêng bỏi đôi cánh nhỏ bằng đôi cánh nhỏ của tớ chim bay vể tổ ấm của tớ đề tránh được một không gian rộng lớn buổi chiều tà. chim bay đi đâu cho thoát khỏi cái bóng chiều tà đang đè nặng xuống mình? Nhưng giữa khung cảnh cổ xưa đó, người đọc lại bắt gặp nét tâm trạng hiện đại:

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

“Lòng quê dờn dợn vời non nước” LÒNG QUÊ ở đây muốn nói lên nỗi nhớ quê của nhà thơ, sự hướng tâm chứ không chỉ có đơn thuần là tấm lòng chất phác, quê mùa. Hai từ “dờn dợn” cho ta cảm nhận sóng biển đang ở bên ta, sóng biển cũng biết nhớ thương hay tác giả đang nhớ thương vậy?

“Dợn dợn” là một từ láy nguyên sáng tạo của Huy Cận, vẫn chưa từng thấy trước đó. Từ láy này hô ứng cùng cụm từ “vời con nước” cho thấy một nổi niềm bâng khuâng, cô đơn của “lòng quê”. Hai từ “dờn dợn” còn gợi cho ta thấy được sự lên xuống uốn lươn của sóng biển hay nỗi nhớ trào dâng của nhà thơ khi đứng trước cảnh hoang vắng của một buổi chiều tà. Và nỗi nhớ ấy không chỉ có một lần mà là liên tục, nhiểu lần nhưng nỗi ấy mới chỉ là “dờn dợn” mà vẫn chưa phải là cuồng nhiệt. Câu thơ muốn nói lên lòng nhớ quê khi tác giả sông nước. hay trong chuyện kiều cũng ả nỗi nhớ nhà nhưng lại vẫn chưa chắc chắn đâu là nhà khi:

“Bốn phương mây trắng một màu

Trông vời cố quốc biết đâu là nhà”

Kiều nhớ quê nhà nhưng bốn phương đều là một màu làm sao để nhận thấy được đâu là nhà hay trong cuộc sống của cô như thế thì sẽ biết về đâu và đâu sẽ là nhà?vâng lòng nhớ quê được gợi lên bởi từ” mây trắng “, cánh chim chiều và được tác giả nhấn mạnh ở từ” con nước’. Tác giả kết thúc bài thơ một cách nhẹ nhàng nhưng sâu lắng:

“Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Nhà thơ đã mượn từ “khói “trong thơ của nhà thơ thôi hiệu để nói lên nỗi lòng của tớ, nếu như nhà thơ Tô Hiệu nói” trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” thì nhà thơ HUY CẬN không tồn tại “khói” nhưng vẫn nhớ về nhà hay cái nôi mà mình đã nuôi ta trưởng thàn. Nhà thơ tô hiệu mới nói lên nỗi nhớ nhà một cách chung nhưng ở đây nhà thơ huy cận đã khẳng định “không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” câu thơ rất mạnh mẽ dứt khoát.

Xưa kia nhà thơ thôi hiệu buồn vì cõi tiên mù mịt, quê nhà cách xa, khói sóng trên sông gợi cho tác giả thấy mờ mịt mà sầu. Nhưng nay Huy Cận buồn trước cảnh không gian hoang vắng,sóng “gợn tràng giang “khíến ông nhớ tới quê như một nguồn ám áp vá là tổ ấm hạnh phúc đối với ông. Thôi hiệu tìm giấc mơ tiên chỉ thấy hư vô, đó là lòng khát khao một cõi quê thực tại còn Huy Cận một mình đối diện với khung cảnh vô tình, hoang vắng lòng ông lại muốn được trở về với quê mang nặng tình thương và mang lại sự ấm cúng cho tác giả đó cũng là nỗi khát vọng của ông.

Bằng những biện pháp so sánh và sự tài tình mô tả của nhà thơ đã thể hiện rõ nỗi buồn, nỗi nhớ nhung quê của tác giả. Nỗi niềm nhớ quê khi đang đứng giữa quê, nhưng quê đã không hề. Đây là nét tâm trạng chung của nhà thơ mới lúc lúc bấy giờ, một nỗi lòng đau xót trước cảnh mất nước.Phân tích khổ thơ thứ 4 bài Tràng giang của Huy Cận hoàn toàn có thể thấy thơ ông mang đậm nét buồn, nét buồn ở đây không phải là buồn do cảnh vật tàn phai, không gian chật hẹp, tù túng hay chết chóc mà buồn vì nét đẹp thiếu tình người, từ một sự mất mát những mối liên hệ có tính phổ quát gây nên. một chiếc buồn đậm màu triết lí, nỗi buồn đó cũng phản ánh sự thay đổi đòi sống xã hội, khổ thơ cũng muốn nói lên nỗi buồn của những ai khi phải xa quê.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

7


Bình An

Bài văn phân tích khổ thơ cuối bài thơ “Tràng giang” số 7

Lửa thiêng (1940) của Huy Cận là một tập thơ sáng giá trong Thơ mới Việt Nam. Phong cảnh trong Lửa thiêng, nhất là trong những bài thơ Vạn lí tình, Tràng giang, Đẹp xưa… đều đượm một nỗi buồn man mác:

Tôi ngã ba sông nước bốn bề

Nửa chiều gà lại gáy trên đê.

Đó là con sông Ngàn bên núi Mồng Gà thuộc Hương Sơn (TP. Hà Tĩnh), quê thân yêu của nhà thơ. Trong Tràng giang, một nỗi buồn như dồn nén thấm sâu vào cảnh vật và lan xa muôn vàn con sóng, nhất là bốn câu kết của bài thơ:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa,

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Bao trùm cả bài thơ là một không gian nghệ thuật bao la, thật đẹp và cũng thật buồn. Có sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp. Có lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu. Có lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng và trước mắt nhà thơ là một khung cảnh bao la, vắng lặng: Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Khổ cuối nói tới hoàng hôn trên tràng giang. một chiếc nhìn xa xôi vợi. Trước mắt nhà thơ là những núi mây nhô lên, đùn lên lớp lớp white color bạc. Cảnh sắc thiên nhiên rất tráng lệ. Bầu trời chắc là xanh thẳm, hoặc tím thầm trong khoảnh khắc hoàng hôn nên màu mây ở cuối chân trời mới ánh lên màu bạc ấy. Giữa cái bao la mênh mông bỗng xuất hiện một cánh chim nhỏ nhoi. Cánh chim đang chở nặng bóng chiều, bay vội vã. Trên cái nền tím sẫm, nhạt nhòa của bóng chiều hôm, hiện lên những núi bạc mây cao và một con chim lạc đàn nghiêng cánh nhỏ. Hai nét vẽ ấy tượng trưng cho những cảnh chiều hôm trong tâm tưởng người lữ thứ: Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi (Bà Huyện Thanh Quan), Chim hôm thoi thóp về rừng (Nguyễn Du). Nghệ thuật tương phản giữa cánh chim nghiêng nhỏ xíu và mờ dần với núi mây bạc hùng vĩ, với trời đất bao la đã làm cho cảnh đất trời và tràng giang thêm mênh mông hơn, xa vắng hơn, và cũng buồn hơn.

Bốn câu kết mang ý vị cổ xưa rất đậm đà. Ý vị ấy, màu sắc ấy được thể hiện ở hình ảnh nhà thơ một mình đứng lẻ loi giữa vũ trụ bao la, lặng lẽ cảm nhận cái cực kì của không gian, thời gian đối với kiếp người hữu hạn. Một cánh chim, một núi mây bạc cũng dẫn hồn ta đi về mọi nẻo, đến với mọi phía chân trời: Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm – Mặt đất mây đùn cửa ải xa (Đỗ Phủ). Ý vị cổ xưa ấy lại được tô đậm bằng một tứ thơ Đường:

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Hơn mười hai thế kỉ trước, trong bài thơ Hoàng Hạc lâu, Thôi Hiệu đã viết:

quê khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

(Tản Đà dịch)

Huy Cận nhìn cao rồi nhìn xa theo tràng giang vời con nước, ở trên nhà thơ đã phủ định: Mênh mông không một chuyến đò ngang – Không cầu gợi chút niềm thân thiết thì ở đây, ông lại nói: Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Nỗi buồn cô đơn và nỗi nhớ quê tràn ngập tâm hồn khách tha hương trong buổi hoàng hôn, bên dòng sông đang mải miết trôi về tận phương nào xa xôi.

Thơ Huy Cận hàm súc, cổ xưa và thấm đẫm màu sắc triết lí suy tưởng. Một hồn thơ bơ vơ, sầu não ấy luôn hướng tới sự giao hòa giữa con người và tạo vật trên một không gian mênh mông, vắng lặng. Cảnh sắc trong Tràng giang đẹp mà buồn. Tình quê, lòng quê trong bốn câu kết thật cực kì sâu sắc, thắm thiết. Đó là những vần thơ mãi mãi vương vấn lòng người trong mọi thời gian và không gian.

Thơ thất ngôn trong Tràng giang mang vẻ đẹp cổ kính, trang trọng. Mỗi khổ thơ nếu đứng tách riêng ra sẽ trở thành một bài tứ tuyệt thể hiện sâu sắc cảm hứng mà tác giả đã viết trong lời đề từ: Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài. Nỗi buồn bâng khuâng và nỗi nhớ ấy là của một tấm lòng đang hoài vọng quê. Âm điệu đoạn thơ trầm bổng như muôn ngàn sóng gợn buồn điệp điệp trong lòng người đọc lâu nay nay. Cảnh sắc hoàng hôn và lòng quê được nói tới trong đoạn thơ mãi mãi khơi gợi trong ta hình bóng quê yêu dấu. Tràng giang đã và đang mang theo bao vạn lí tình trong hồn ta.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

8


Bình An

Bài văn phân tích khổ thơ cuối bài thơ “Tràng giang” số 8

Huy Cận thơ của ông mang nhiều nỗi buồn cảnh vật và thế sự. Nỗi buồn đó về những con người, kiếp người và về quê giang sơn. Bài thơ Tràng Giang đó là nơi tác giả bài thơ nhiều tình cảm của bản thân với quê, giang sơn. Đặc biệt trong khổ cuối thể hiện nỗi sầu của thi nhân và nhân thế.

Trong ba khổ đầu, tác giả dùng biện pháp tả cảnh ngụ tình để mô tả những con người nhỏ nhoi, thấp cổ bé họng thì trong khổ cuối, ông đã hòa chung sự cô độc bản thân vào nỗi nhớ quê nhà nhớ quê lên tầng thiên nhiên cao, rộng lớn hơn nhiều: Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Một câu thơ tưởng như đơn giản nhưng khiến người đọc choáng ngợp bởi hình ảnh núi mây. Từ láy lớp lớp khiến cho chúng ta có cảm giác mây như dày, tầng lớp và núi mây có màu bàng bạc, huyền ảo. Huy Cận còn lấy cảm hứng từ trong thơ Đỗ Phủ vào bài thơ.

những cụm từ đùn và lớp lớp khiến không gian như rộng và cao hơn rất nhiều. Điều này khiến nhân vật trữ tình đã cô độc nay lại còn nhỏ nhoi trước thiên nhiên. Hình ảnh núi mây Huy Cận còn khiến độc giả có sự liên tưởng về nỗi buồn trong lòng Huy Cận xếp ông xã lớp lên nhau đó là tâm trạng sầu thảm của chính tác giả.

Giữa không gian thiên nhiên bao la, rộng lớn còn có cánh chim nhỏ xíu: Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa. Thơ Huy Cận cánh chim không thật sự tĩnh lặng mà nó đang đập cánh chao nghiêng trong một không gian thiên nhiên vô tận. Hai câu thơ cuối Huy Cận cảm thấy cô độc, lẻ loi và nhớ nhà da diết:

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Dợn dợn từ ngữ chỉ có trong thơ của Huy Cận, ông lại sáng tạo ra một từ láy riêng cho mình. Hai thanh nặng như là nỗi buồn của tác giả vào hố sâu vô vọng. Từ dợn dợn tựa như những con sóng dợn buồn trong lòng nhà thơ Huy Cận.

Câu thơ cuối của Tràng giang dựa trên nền thơ của Thôi Hiệu trong Hoàng Hạc lâu: Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai. Thôi Hiệu nhìn khói sóng mà nhớ quê còn Huy Cận lại phát triển thêm ý thơ đó là “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”, đối với ông tình yêu quê, giang sơn trong lòng ông lúc nào cũng có thể có sẵn mà không cần một thứ xúc tác nào khác.

Trong Tràng Giang khổ thơ cuối đặc biệt với sự u ám và thể hiện nỗi buồn, nỗi nhớ quê của chính tác giả. Qua bài thơ tác giả mong muốn cuộc sống này trở thành ý nghĩa sâu sắc và đẹp đẽ.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

9


Bình An

Bài văn phân tích khổ thơ cuối bài thơ “Tràng giang” số 9

Mỗi khi trở về với trào lưu Thơ mới, cùng với hàng loạt những tên tuổi lớn như: Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, chúng ta không thể không nói tới Huy Cận – một hồn thơ tiêu biểu cho Hồn thơ ảo não nhất trong dàn đồng ca đa sầu đa cảm này. Hoài Thanh đã từng đánh giá: “Huy Cận cùng Xuân Diệu đã làm nên xóm thơ Huy Xuân” và nếu như Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất của cám thức về thời gian thì Huy Cận lại là nhà thơ cổ xưa nhất của cảm thức cực kì tinh ý về không gian. Chính vì vậy, thi sĩ hướng ngòi bút của tớ về với vũ trụ bao la, với sông dài, trời rộng. toàn bộ mạch cảm xúc và phong thái nghệ thuật trên đều được thể hiện sinh động qua bài Tràng giang rút ra từ tập thơ nổi tiếng Lửa thiêng. Khổ thơ cuối được coi là khổ thơ sâu lắng, tha thiết nhất trong trường buồn Tràng giang.

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ: bỏng chiêu sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Nếu như trong ba khổ thơ đầu, tâm trạng buồn – “nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn không tìm ra lối như nối dài triền miên” của thi nhân dàn trải theo cái mênh mông, vô định của sông nước, thì đến khổ thơ cuối, tâm trạng ấy được mở lên cao lan tỏa trong không gian hoàng hôn của buổi chiều tàn:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa

Thiên nhiên, tạo vật buồn nhưng đôi lúc bộc lộ vẻ đẹp kì vĩ, lạ lùng”. Đó là lời tự tình của tác giả về hai câu thơ này! Thật vậy, không tồn tại gì vui và rạo rực bằng lúc bình minh, nhưng không gì buồn tan tác bằng buổi ngày tàn, khi bóng chiều đang sa sầm lại. Nhưng chính lúc ấy, trong thơ Huy Cận, nơi Tràng giang lại vang lên vẻ đẹp tráng lệ với lớp lớp những tầng mây hợp thành núi mây khổng lồ được những vạt nắng chiếu rọi thành núi bạc. Đó là cảnh thực, song cũng là một hình ảnh nghệ thuật đẹp tuyệt diệu. Viết được hình tượng núi bạc, Huy Cận phải có một sự cảm nhận vẻ đẹp tinh ý và đó phải là một hồn thơ yêu quê giang sơn đằm thắm. Hình ảnh núi bạc ấy sinh động hơn, có hồn hơn, hùng vĩ hơn qua động từ “đùn”. “Mây trắng hết lớp này đến lớp khác như những búp bông trắng nở ra trên trời cao, ánh chiều khi vụt tắt rạng lên vẻ đẹp”. Nhà thơ đã từng tâm sự ông học được chữ “đùn” trong bài thơ dịch của Đỗ Phủ:

Lưng gợn sóng gợn lòng sông thẳm

Mặt đất mây đùn cửa ải xa.

Trong suốt bài Tràng giang, hình ảnh thi nhân cô đơn trong từng cảnh vật đổi thay nhưng cùng chung dáng vẻ; trôi nổi, lạc loài, vô định, như cành củi, đám bèo dạt… Và tới khổ thơ cuối, hình ảnh thi nhân, nỗi buồn thi nhân lại thấp thoáng ẩn hiện trong một hình ảnh cô đơn, lạc loài hơn nữa, một hình ảnh rất tội nghiệp. Đó là một cánh chim nhỏ nhoi, cánh chim đang chờ nặng bóng chiều, nghiêng cánh có bay về chân trời xa vắng. Trong thơ cổ xưa cũng như hiện đại, chỉ riêng việc khắc họa hình ảnh một cánh chim lẻ loi đã gợi nên một chiếc gì cô đơn, tội nghiệp, gợi nên cái buồn vắng, trống trải trong tâm hồn.

Trong thơ Huy Cận, đó lại là một cánh chim “nghiêng cánh nhỏ” và đang chờ nặng bóng chiều sa cứ xa mờ dần đối lập với hình ảnh núi bạc hùng vĩ trong trời nước bao la. Sự tương phản ấy khiến cảnh tràng giang đã mênh mông xa vắng lại càng mênh mông hơn, xa vắng hơn và tràng giang đã buồn lại càng buồn hơn. Hình ảnh cánh chim bay nghiêng trong buổi hoàng hôn là hình ảnh ước tư tưởng, tượng trưng trong thơ cổ xưa. Không gian ấỵ, cánh chim ấy đã từng là nơi bao thi nhân xưa thả những tâm tình tha thiết, thấm thía vào đó. Và có lẽ nó còn là nơi để thi nhân muôn đời gửi gắm những nỗi niềm sâu kín. Cánh chim lẻ loi, cô đơn, lạc đàn nghiêng cánh nhỏ trong Tràng giang lại gợi cho ta nhớ tới tâm tưởng, nỗi buồn bơ vơ, trống trải của một người lữ thứ xa quê đang cô đơn thả những mảnh hồn theo cánh chim mỏi cố bay về nơi chân trời xa vắng để tìm một điểm dừng chân:

Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi.

(Bà Huyện Thanh quan)

Hai câu thơ đầu của khổ thơ cuối rất hay. Nếu như câu thơ “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc” gợi nên cái cao, cái bồng bềnh của cảnh mây trời thì câu tiếp theo “Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa” lại trĩu xuống. Có lẽ bóng chiều ấy đang chờ nặng những tâm tình buồn nhớ của thi nhân. Tâm trạng cô đơn cùng nỗi “sầu nhân thế” như ngưng đọng và không thể giải tỏa trong không gian của “bóng chiều sa” ấy, và nó còn thể hiện sâu đậm hình ảnh thi nhân một mình đứng lẻ loi giữa vũ trụ bao la, lặng lẽ.

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

“Dợn dợn” như một nốt nhạc kết thúc một bản nhạc buồn, nó gợi lên muôn nhịp sóng: sóng nước, sóng lòng. “Dợn dợn” diễn tả sự rợn ngợp của nhà thơ trước cảnh trời nước mênh mông trong từng khoảnh khắc hoàng hôn gắn liền với tình quê, cố hương:

Dừng chân đứng lại: trời, non, nước

Một mảnh tình riêng ta với ta.

Hay:

quê khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Gợi nên từ tứ thơ ấy của Thôi Hiệu, hai câu thơ Đường:

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

cũng là tấm “tình quê” của Huy Cận. Nhưng đây là một tình quê tha thiết hơn, sâu nặng và mãnh liệt hơn, bởi tấm “tình quê” ấy được toát lên trong một câu thơ vừa cổ xưa, vừa hiện đại: cổ xưa ở cảnh xưa: khói sóng, ở kết cấu thơ Đường: hiện đại ở cách nói trái ngược với ý Thôi Hiệu, một cách nói mới mẻ, độc đáo của một hồn thơ đầy lãng mạn. Xưa kia, đứng trên lầu Hoàng Hạc, Thôi Hiệu nhìn thấy khói sóng phủ mờ trên sông mà lòng nhớ, tình quê thổn thức. Nhưng nay Huy Cận không cần cái mờ ảo của khói sóng tác động vào thị giác, thính giác, cũng không cần cái se lạnh thấm vào da thịt, không cần thứ vốn gợi buồn tác động nhưng tình quê vẫn trào dâng. Rõ ràng tâm trạng của Huy Cận sâu lắng hơn, mãnh liệt hơn, nó luôn thường trực trong tâm hồn và luôn sẵn sàng tỏa ra, thấm vào vạn vật.

Khổ thơ đã khép lại về tứ thơ, nhưng cái tình quê buồn tha thiết sâu lắng thì như kéo dội vang vọng mãi theo cái âm điệu “dập dềnh” như sóng nước Tràng giang của hai câu thơ cuối.

Đây là khổ thơ rất hay, hay ở sự phối kết hợp nhuần nhuyễn thơ cổ truyền với những nét hiện đại. “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Cảm hứng lời đề từ ấy dàn trải trong ba khổ thơ đầu đồ rồi quy tụ, kết tinh trong khổ thơ cuối – khổ thơ hoàn toàn có thể coi như một bài tứ tuyệt hay bộc lộ chân thực nhất, đậm đà tình yêu quê của tác giả.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

10


Bình An

Bài văn phân tích khổ thơ cuối bài thơ “Tràng giang” số 10

Ai đó đã từng nhận xét như này về thơ Huy Cận: rằng, thơ ông không phải là rượu đã rót vào chén mà là men được lên, không phải là hoa trên cành, mà là dòng nhựa đương chuyển. Phải chăng muốn nói tới sức sống cũng như sức gợi của sự hàm súc, cô đọng trong cách dùng từ đặt câu của thi nhân. Khổ thơ 4 bài Tràng Giang hoàn toàn có thể xem là chuẩn mực cho nhận định ấy.

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc…

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”

trái đất thiên nhiên được Huy Cận tạo ra khi nào cũng là một không gian hùng vĩ rợn ngợp và gợi buồn. Mà như Hoài Thanh đã nói, rằng “tưởng như Huy Cận đã lượm lặt hết những chút buồn rơi rải rác để viết nên những vần thơ lo âu ảo não như thế”. Vừa bước vào trái đất thơ, ta đã bắt gặp ngay hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ mà thấm màu buồn đã được phác lên làm toàn bộ bức phông nền cho cảnh vật. Lớp lớp, mây cao và núi bạc. Những vật liệu rất quen thuộc trong thơ cổ xưa, được Huy Cận sử dụng, nhưng cái mới ở đây đó là cách nhà thơ phối kết hợp, nhào nặn chúng bằng tư duy thơ hiện đại của tớ. Vậy cho nên, Huy Cận tập cổ mà không nệ cổ. Hình ảnh trong câu thơ này gợi cho ta nhớ đến dáng dấp của một câu thơ trong thơ Đỗ Phủ:

“Mặt đất mây đùn cửa ải xa”

Đều là cách diễn đạt gợi nên không gian buổi chiều, buổi hoàng hôn đẹp mà buồn nhưng diễm lệ, mờ ảo. Cũng đồng thời, gợi nên chất hùng vĩ nét khoáng đạt của cảnh vật. Để tiếp tục câu thơ sau, là nghệ thuật đối rất chỉnh của thi nhân:

“Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa”

Cánh chim nghiêng như đã đỡ cả buổi hoàng hôn rực rỡ trên đôi cánh nhỏ xíu của tớ, như đang mang trong nó cả cái lồng lộng hùng vĩ của dáng chiều. Vẫn là sự thủ pháp đối lập quen thuộc trong thơ cổ, cánh chim nhỏ nhoi, đơn độc giữa chân trời của nó và đối lập là hình ảnh thiên nhiên, là bóng chiều rợn ngợp, rộng lớn, mênh mông. Điều đó tạo cảm giác mới mẻ trong cảm nhận cho người đọc. Dấu hai chấm đó là dụng ý nghệ thuật mà Huy Cận đặt vào dòng thơ. Tưởng như không chỉ có trong cảm giác, mà cả trong dòng chảy của nghệ thuật đang tiếp diễn trên trang giấy, thì cánh chim đơn côi và cô đơn ấy cũng đang gồng gánh và mang trong nó cả bóng chiều lồng lộng.

Đứng trước không gian rộng lớn ấy, nhân vật trữ tình chảy tràn những xúc cảm bồi hồi về quê:

“Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

Từ “dợn dợn” thực sự là điểm mấu chốt để ta thấy bút thơ tài hoa của Huy Cận, vừa gợi được cái cồn cào khắc khoải trong lòng người, vừa cho thấy sự day dứt khôn nguôi trong tâm can, sự khắc khoải, đau đáu của một kẻ đứng trên quê mà vẫn cảm thấy thiếu quê. Câu thơ cuối, là một chỉ dấu để ta hiểu hơn về cảm giác của nhân vật trữ tình. Rằng dẫu không cần một điểm tựa, điểm gợi tới từ khói trắng của chiều tà, của hoàng hôn thì trong lòng nhân vật trữ tình vẫn dấy lên nỗi niềm tha thiết với quê. Đây là cảm giác trống vắng, thiếu thốn bất định của cái tôi thơ Mới giai đoạn bấy giờ. Nhưng đồng thời cũng đưa ra cho ta một câu hỏi, phải chăng giữa con người và cảnh vật, con người và con người nơi đây không hề sự gắn kết, cho nên tôi mới cảm thấy bơ vơ, cô quạnh và lạc lõng đến vậy. Nó phải chăng là một sự đứt gãy có tính phổ quát và sự gắn kết trong xã hội, cũng đồng thời là sự biến mất của những giá trị truyền thống và thay vào đó là sự chuyển mình của dòng chảy hiện đại.

Khổ 4 cuối là khổ thơ đặc sắc, nắm giữ hồn cốt thơ Huy Cận, và cho ta hay, nỗi buồn sầu ảo não trong thơ ông, còn là nỗi buồn của một hồn thơ luôn tha thiết, vọng ngưỡng về quê của tớ.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Từ khóa: Top 10 Bài văn phân tích khổ thơ cuối bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận (lớp 11) hay nhất, Top 10 Bài văn phân tích khổ thơ cuối bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận (lớp 11) hay nhất, Top 10 Bài văn phân tích khổ thơ cuối bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận (lớp 11) hay nhất

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *